Khu trưng bày ngoài trời Triển lãm thành tựu Đất nước phải đặc sắc, điển hình, tiêu biểu
(Chinhphu.vn) - Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương bám sát nội dung Công điện số 142/CĐ-TTg ngày 23/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức khai mạc Triển lãm thành tựu Đất nước nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh, đặc biệt lưu ý bố trí bổ sung khu trưng bày ngoài trời các loại máy móc, trang thiết bị đặc sắc, điển hình, tiêu biểu phục vụ cho các ngành, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ của các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh...
Đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”
(Chinhphu.vn) - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chỉ thị số 354/CT-BVHTTDL về việc đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” giai đoạn 2021-2030.
Triển lãm thành tựu Đất nước: Sẵn sàng cho ngày khai mạc
(Chinhphu.vn) - Sáng 25/8, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Triển lãm thành tựu Đất nước nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2025) đã đi kiểm tra công tác hoàn thiện các gian hàng Triển lãm.
80 năm ngành Văn hóa giữ sứ mệnh ‘soi đường cho quốc dân đi’
(Chinhphu.vn) - 80 năm qua, Văn hóa đã nuôi dưỡng tâm hồn và bản sắc, từ khúc nhạc hào hùng của nền văn hóa kháng chiến, đến những vũ điệu tự tin của thể thao hội nhập với những khát vọng vươn cao, với những bước chân du lịch đưa đất nước ra thế giới và báo chí trở thành mạch dẫn tri thức kết nối niềm tin giữa Đảng với Nhân dân.
Văn hóa là sức mạnh mềm, là 'năng lượng gốc' vô tận của dân tộc Việt Nam
(Chinhphu.vn) - 80 năm xây dựng và phát triển, dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đồng hành cùng dân tộc vượt qua mọi chặng đường lịch sử, viết nên hành trình đầy tự hào, phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân, vì mục tiêu độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khẳng định vai trò, vị trí đặc biệt của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ông Nghè Đông Tác: Người mang khí tiết kẻ sĩ Bắc Hà thời ly loạn
Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795 - 1868), húy là Dưỡng, tự Tuần Phủ, hiệu Chí Đình, biệt hiệu Đông Khê, người làng Đông Tác, huyện Thọ Xương (nay là phường Kim Liên, Hà Nội). Không chỉ vì đỗ Tiến sĩ, mà bởi đức cao vọng trọng, nêu cao ý thức văn hoá, ra sức chấn hưng giáo dục mà người đương thời kính trọng gọi là “ông Nghè Đông Tác”.
Vượt nghịch cảnh để thành tài
Theo gia phả và các nguồn sử liệu, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý sinh trưởng trong một dòng tộc danh giá và có lịch sử định cư lâu đời ở đất Thăng Long. Tương truyền, thủy tổ của ông họ Nguyễn vốn ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn (nay thuộc Thanh Hóa). Vào cuối đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã rời ra phường Đông Tác khai hoang và có nghề nung đúc.
Sau này, dòng họ có Giải nguyên Nguyễn Hy Quang (1634 - 1692) đỗ khoa Sĩ vọng năm 1673. Sau hai năm làm chức Giáo thụ phủ Thường Tín, được gọi vào phủ chúa giao cho dạy dỗ các thế tử, trong đó có Trịnh Bính. Nguyễn Hy Quang làm tới chức Lang trung bộ Lại kiêm Tri bộ Hộ, trước khi mất được thăng Công khoa Đô cấp sự trung, tước Hiển Phương bá.
Tiếp theo Nguyễn Hy Quang, cụ tổ đời thứ tám là Nguyễn Trù (1668 - 1736), đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Sửu (1697) từng làm Hữu Thị lang bộ Hình và Tế tửu Quốc Tử Giám. Cháu nội của Nguyễn Trù là Nguyễn Hữu Vọng (1762 - 1818), đỗ Sinh đồ thời Lê, được phong tước Lương Vũ bá. Ông cũng là thân sinh của Nguyễn Văn Lý.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống thi thư hiển hách, Nguyễn Văn Lý từ nhỏ đã để chí vào việc học hành. Năm 14 tuổi (1808) ông theo học Bùi Chỉ Trai, em Tham tụng Bùi Huy Bích và chịu nhiều ảnh hưởng của học phong họ Bùi. Đến năm 18 tuổi (1812) ông theo học Tiến sĩ Lê Hoàng Đạo - Đốc học Hà Nội, sức học tấn tới lên nhiều.
Chân dung ông Nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý.
Việc học hành đang thuận lợi thì vào năm 1817, thân mẫu Nguyễn Văn Lý bị bệnh nặng. Ông cùng em trai đêm đêm kê chiếc giường nhỏ bên cạnh để cùng chăm sóc, nghe ngóng bệnh tình của mẹ. Tháng 2 năm sau (1818) thì thân mẫu mất. Chôn cất mẹ xong, mới được vài tháng thì cha đổ bệnh, đến tháng 6 cũng qua đời.
Trong “Tự truyện”, Nguyễn Văn Lý viết: “Chỉ trong vòng có một năm mà gia đình có đến hai biến cố lớn, gia sản tổ tiên để lại có 4 mẫu ruộng bạc điền đã bán hết để lo việc tang”. Để có tiền trang trải, Nguyễn Văn Lý phải đi dạy học và việc học hành thi cử của ông cũng bị chậm lại.
Năm 28 tuổi, Nguyễn Văn Lý cưới vợ, là con gái thứ hai của Tri phủ họ Nguyễn, người Kim Lũ. Tháng 10, ông đi thi Hương nhưng chỉ trúng Nhị trường. Sau đó, ông tìm theo học Tiến sĩ Phạm Quý Thích, Đốc học Cao Huy Diệu, Tri huyện Nguyễn Trừng. Trong các vị thầy ấy, người có ảnh hưởng tới ông nhất là thầy Phạm Quý Thích.
Bản rập văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Thìn (1832) - khoa Nguyễn Văn Lý đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Làm quan - giúp dân - giữ tiết
Được sự khuyến khích của thầy Phạm Quý Thích, khoa thi Hương năm Ất Dậu (1825), khi 31 tuổi Nguyễn Văn Lý đỗ Cử nhân, cùng khoa với Nguyễn Văn Siêu, Hoàng Tế Mỹ, Vũ Tông Phan... Nhưng ngay trong năm 1825, thầy Phạm Quý Thích đã qua đời mà không kịp chứng kiến sự đỗ đạt, trưởng thành của học trò. Nguyễn Văn Lý khóc viếng thầy: “Hành tàng để ý y thùy hội/ Sơ văn đương niên thượng hướng luân” (ý sâu xa của lẽ hành tàng mấy ai đã hiểu phận con là trò, tới muộn, ít được gần, nay vẫn hướng tới thầy mong được luận cho rõ).
Con đường khoa cử của Nguyễn Văn Lý sau đó khá lận đận. Ông thi hỏng liền hai khóa thi Hội vào các năm Bính Tuất (1826) và Kỷ Sửu (1829). Phải tới khoa thi năm Nhâm Thìn (1832), khi đã 38 tuổi ông mới đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Văn bia đề danh Tiến sĩ cho biết: Tháng 5 vào điện thí ở giải vũ điện Cần Chánh; quan Độc quyển là Binh bộ Thượng thư Lê Văn Đức và Lễ bộ Thượng thư Phan Huy Thực; quyển của ông được vua châu phê 4 chữ “Tam giáp nhất danh” (đỗ nhất đệ tam giáp). Khoa này, triều Nguyễn lấy đỗ 8 Tiến sĩ.
Sau khi đỗ đạt, năm 1833 Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý được bổ nhiệm Tri phủ Thuận An (vùng Thuận Thành, Bắc Ninh). Không may, tháng 10 năm đó, phủ Thuận An xảy ra việc tù phạm phá ngục, dù ông đi việc quan vắng vẫn bị triều đình giáng cấp. Rồi 8 tháng sau, ông được triệu về kinh làm Viên Ngoại lang, rồi Lang trung bộ Lại.
Văn chỉ tại khuôn viên đình Trung Tự. Ảnh: Trần Siêu.
Mùa Hè năm 1838 nhân khi bị ốm, Nguyễn Văn Lý xin nghỉ về quê. Tại Hà Nội, ông cùng thân hữu như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu lập ra Văn chỉ Thọ Xương. Chính Nguyễn Văn Lý là người soạn văn bia “Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi ký”. Ông khẳng định: “Trên thì noi theo phong độ và ý chí của tiên hiền, dưới thì khuyến khích thế hệ mai sau trau dồi tiến tới. Trong phạm vi hẹp thì trở thành các vị quân tử trong làng, các vị thầy trong xã. Mở rộng ra sẽ là tôn chúa giúp dân”.
Làm Đốc học Bắc Ninh được 7 tháng thì đầu năm 1841, Nguyễn Văn Lý được cử làm Án sát tỉnh Phú Yên kiêm Hộ lý Tuần phủ quan phòng. Tháng 8, ông được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Gia Định.
Trong cuộc đời làm quan, Nguyễn Văn Lý bị oan ức mấy lần. Trong thời gian ở Phú Yên, có 2 lần ông bị giáng chức. Lần thứ nhất vì việc dâng xoài chậm, bộ Lễ tham hạch, bộ Lại nghị tội là trái với quy định “phạt nhẹ giáng lưu”. Năm 1844, một lái buôn ở Phú Yên ăn trộm, vu khống ông nhận hối lộ. Dù Học sĩ Vũ Phạm Khải và Án sát Nguyễn Công Vịnh xét xử đã kết luận Nguyễn Văn Lý vô tội nhưng vẫn bị cách chức, lưu lại làm các việc phụ dịch. Sau 2 năm bị phụ dịch, ông được giao làm Hàn lâm Viện Điển bạ, rồi năm 1846 làm Hành tẩu ở Nội các.
Trong thời gian làm quan, Nguyễn Văn Lý luôn quan tâm đến những việc giúp dân cứu đời, quan tâm đến việc học của sĩ tử. Ông dâng sớ xin miễn lính cho 7 người con cháu triều Lê trước; xin tha tội chết cho 10 tù nhân chịu tội tử hình, và mở cho con đường sống là cho khẩn hoang ruộng bỏ hóa, hoãn thuế 3 năm, xin thả các tù phạm người Man cho về quê quán.
Người dân Trung Quốc thời nhà Minh chạy sang Việt Nam lập làng (sau gọi là Minh hương) cũng được chu cấp, khi có việc oan khuất đều được giải quyết; thuyền buôn nhà Thanh bị mất trộm đến kêu cứu, ông cũng hết sức tìm lại cho… Những việc giúp đời như thế của ông, dân Phú Yên, dân Minh hương coi là việc ân đức đều đem vàng, bạc hàng trăm lạng tới tạ, nhưng ông không nhận, bảo rằng: “Ta chỉ để ơn lại cho dân ta mà thôi”.
Đình Trung Tự thờ - nơi mang nhiều dấu ấn của họ Nguyễn Đông Tác, thờ cụ Nguyễn Hy Quang. Ảnh: Trần Siêu.
Người thầy chấn hưng căn cốt Thăng Long
Cáo quan mấy bận nhưng đến năm 54 tuổi (1848), Nguyễn Văn Lý mới được chấp thuận cho nghỉ một thời gian. Ông về Hà Nội mở trường Chí Đình ven hồ Gươm. Thời bấy giờ, ở Hà Nội có ba ngôi trường danh tiếng, thu hút được nhiều sĩ tử là trường Hồ Đình của Vũ Tông Phan, trường Phương Đình của Nguyễn Văn Siêu, và trường Chí Đình của Nguyễn Văn Lý.
Quan điểm mở trường Chí Đình của ông là đào tạo ra những nhân tài xây dựng đất nước, chứ không chỉ là đỗ đạt làm quan. Những học trò xuất thân từ trường lớp Chí Đình đã làm rạng danh thầy và ngôi trường mang hoài bão chí hướng của kẻ sĩ Bắc Hà. Có thể kể những nhân tài xuất thân từ trường, như: Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp người Kim Lũ làm đến Thượng thư bộ Lại, Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ, Phụ chính vua Thành Thái...
Cùng với việc lập trường học, ông Nghè Đông Tác còn cùng các bạn đồng môn, đồng chí hướng như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Ngô Thế Vinh, Phạm Sĩ Ái, Lê Duy Trung, Trần Văn Vi… xây dựng trung tâm văn hóa Hà Nội. Ông góp công sức vào việc xây dựng Hội Hướng thiện ở đền Ngọc Sơn. Hội được nhượng lại chùa Ngọc Sơn, tu sửa thành đền thờ Văn Xương Đế quân, một vị thần về văn chương khoa cử. Mục đích của hội ghi rõ: “Hội Hướng thiện vốn do những người trong khoa mục thành lập. Ở thời kỳ đầu, hội chủ yếu nhằm cố gắng làm những việc đem lại lợi ích cho đời”.
Nhưng khi hội thành lập, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý lại phải trở về kinh thành Huế nhậm chức. Ở vùng Lập Thạch được 9 tháng thì vùng này khuyết chức “Tư đạc” phủ Thường Tín, Tổng đốc Hà Ninh lúc đó là Lâm Duy Nghĩa đã tiến cử và ông được bổ chức Giáo thụ. Năm 1858 được sung chức phúc khảo trường thi Nam Định.
Khi Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng (1858), ông dâng “Mật trần kế sách đánh Tây”. Trước khi Pháp tấn công, ông còn tập trung nghiên cứu cả kinh tế và quốc phòng. Ông xin đặt viên Điền sứ để khai khẩn 3 vạn mẫu đất mới bồi ở tỉnh Nam Định và đặt 3 đồn binh để ngăn giặc từ biển vào tỉnh Hải Dương. Vua Tự Đức đã giao cho bộ Hộ và Quân thứ Hải Dương xem xét thi hành.
Năm 1859, Tổng đốc Định Tường Nguyễn Phượng Hiên tiến cử, ông lại được thăng chức Hàn lâm Tu soạn, lĩnh chức Đốc học Hưng Yên. Năm 1860, Nguyễn Văn Lý mới đến Học đường nhậm chức, lúc này học trò của ông đông tới 500 người. Tuy nhiên tình hình Bắc Hà trở nên bất ổn, nhiều người trong giới sĩ phu không đồng thuận với triều đình. Nguyễn Văn Lý là người nhiệt thành yêu nước, dù chỉ giữ chức học quan, nhưng nghe có việc nghị hòa, ông đã cùng các Giáo thụ, Huấn đạo trong hạt mình dâng sớ can ngăn.
Năm 1864, khi đang giữ chức Đốc học Hưng Yên, đúng lúc ông đang không khỏe, cần phải thuốc thang thì triều đình truyền chỉ, bút son phê “vào kinh đợi chỉ” để bói cho vua một số điều hệ trọng, cơ mật. Và để có thể tin chắc lời phán bảo của thế lực siêu nhiên, vua Tự Đức yêu cầu Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý thử nghiệm bằng việc đoán “ngày nắng ngày mưa” ngay trong cuối tháng.
Trong “Tự truyện”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý có dẫn kỹ chuyện này, để rồi tất cả nhằm tỉnh thức vua Tự Đức trước hoạ xâm lăng. Nhân thể, ông dâng tập điều trần gồm ba điều “ích nước lợi binh”. Trong triều các quan xin cho Nguyễn Văn Lý lĩnh chức Thiếu khanh sung Toản tu Sử quán, nhưng ông tỏ ý không muốn nhận.
Vừa khi ấy, tại trường thi Nam Định xảy ra chuyện. Các sĩ tử chỉ trích quan Chủ tư Ngụy Khắc Đản đi sứ Tây “hoàn thành cục diện chủ hòa”, không xứng đáng nắm vận mệnh văn chương, trương biển ngăn không cho học trò vào trường thi. Ngụy Khắc Đản lập tức tâu trình, vua xuống chỉ: “Các quan Tế tửu, Tư nghiệp, và các quan Đốc học, Huấn đạo, Giáo thụ các tỉnh bị cách lưu một bực để khiển trách”.
Tháng 3 năm 1865, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý lấy cớ già yếu xin nghỉ. Vua Tự Đức hiểu việc cách quan lần này Nguyễn Văn Lý không có lỗi, vì vậy có sắc xuống với nội dung: “Nguyễn Văn Lý, Tiến sĩ xuất thân, 34 năm trước đây từng làm Án sát; án cách lưu lần này đại lược là xét cùng với mọi người, chiếu lệ công tội mà hoàn trở về nguyên tịch xuất thân, lòng trẫm không nỡ, nếu khai phục toàn hạng cũng chưa hợp. Vậy chuẩn cho Nguyễn Văn Lý giữ nguyên hàm Trước tác về hưu”.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý rất chú trọng giáo dục con cháu. Ông kiên trì hơn 20 năm để sưu tầm và biên soạn bộ “Thế phả” dày 418 trang, viết “Tự gia yếu ngữ”, “Đông Tác Nguyễn thị gia huấn” để dạy con cháu, giúp làng xây dựng Văn hội, Văn chỉ... Ngoài ra, ông còn để lại rất nhiều tác phẩm văn thơ. Ông nghè Đông Tác mất năm 1868, hưởng thọ 74 tuổi. Trưởng môn là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp cùng các môn sinh dựng nhà thờ thầy tại làng Trung Tự.
Thung Nham - nơi bảo tồn nhiều loài chim quý
Ẩn mình giữa những dãy núi đá vôi trùng điệp của Ninh Bình, vườn chim Thung Nham là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn rời xa phố thị ồn ào để hòa mình vào thiên nhiên trong lành và nguyên sơ. Đây không chỉ là “ngôi nhà” của hàng nghìn cá thể chim mà còn là vùng đất bảo tồn quý giá giữa lòng Di sản thế giới Tràng An.
Nằm trong vùng lõi của Quần thể danh thắng Tràng An, vườn chim Thung Nham hiện là nơi cư trú của khoảng 5.000 tổ chim với hơn 46 loài khác nhau. Đáng chú ý, nơi đây còn là mái nhà an toàn cho hai loài chim quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam: Hằng hạc và Hồng hoàng (còn gọi là Phượng hoàng đất).
Sở hữu địa hình đặc biệt với những dãy núi vôi bao quanh, Thung Nham như một “thung lũng xanh” được gió trời che chắn tự nhiên - điều kiện lý tưởng để các loài chim sinh sống và sinh sản quanh năm.
Mỗi buổi hoàng hôn, khi những tia nắng cuối cùng buông xuống, từng đàn chim lại rủ nhau bay về tổ. Những cánh chim trải dài, rợp kín bầu trời, tiếng đập cánh hòa cùng tiếng gọi bầy vang vọng khắp không gian, dệt nên bản hòa ca sống động của thiên nhiên.
Cò nhạn (hay còn gọi là cò lửa) - một loài chim đặc trưng tại Vườn chim Thung Nham.
Cò tìm kiếm thức ăn giữa khu rừng nguyên sinh.
Một chú cò trắng bay lượn giữa thảm rừng xanh.
Theo Ban quản lí Khu du lịch sinh thái Thung Nham, suốt hơn 20 năm hoạt động, mục tiêu bảo tồn thiên nhiên luôn được đặt lên hàng đầu. Các chế tài bảo vệ được ban hành và thực hiện nghiêm ngặt nhằm hạn chế mọi tác động đến hệ sinh thái động thực vật. Tại khu vực vườn chim và rừng đặc dụng luôn có đội tuần tra bảo vệ liên tục.
Ngoài ra, khu vực này cũng được tiến hành đắp đập để dự trữ thức ăn cho chim, trồng cây cho số lượng đàn tập trung xây tổ; đồng thời đưa ra quy định nghiêm ngặt đối với khách tham quan về việc giữ gìn vệ sinh, giữ yên lặng trong khuôn viên.
Biển báo tại khu vực bảo tồn chim nhắc nhở du khách tôn trọng thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống cho các loài chim quý.
Du khách ngồi thuyền ngắm các loài chim hoang dã bay về tổ.
Bên cạnh đó, Ban quản lí Khu du lịch sinh thái Thung Nham cũng tích cực phối hợp cùng chính quyền địa phương để tuyên truyền tới người dân không săn bắn, bảo vệ số lượng đàn khi đàn bay đi kiếm ăn bên ngoài. Vậy nên, các loài chim ở đây hầu như được bảo tồn nguyên vẹn.
‘Mùa thu Độc lập’ tái hiện khát vọng và sức mạnh dân tộc qua 80 năm lịch sử
Sự kiện do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Vụ Tuyên truyền (Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) tổ chức.
Với hơn 200 tư liệu, hình ảnh và hiện vật quý, triển lãm đưa công chúng trở về những trang sử hào hùng, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong hành trình dựng xây và bảo vệ Tổ quốc.
Trưng bày mở đầu với chuyên mục “Ba Đình tỏa nắng Mùa thu”, tái hiện bối cảnh Việt Nam từ năm 1858 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, biến đất nước thành thuộc địa nửa phong kiến. Các phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại do thiếu đường lối đúng đắn.
Từ khủng hoảng ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Qua nhiều năm bôn ba khắp năm châu, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta làm nên thắng lợi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945. Ngày 2/9 cùng năm, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Phần hai, “Từ mùa thu Độc lập đến mùa xuân Đổi mới”, tái hiện chặng đường gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc. Sau thắng lợi 1945, toàn dân bước vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như các cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới và chủ quyền biển đảo.
Trong hòa bình, đất nước phải khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội trong điều kiện muôn vàn khó khăn. Đại hội VI của Đảng (1986) đã mở ra đường lối Đổi mới, tạo bước ngoặt có ý nghĩa quyết định. Gần 40 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng – an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Trưng bày “Mùa thu Độc lập” không chỉ là dịp tri ân các thế hệ cha anh đã hy sinh vì độc lập – tự do, mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và niềm tự hào dân tộc. Đây cũng là lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về trách nhiệm tiếp nối truyền thống, thi đua lập nhiều thành tích chào mừng 80 năm thành lập nước, hướng tới Đại hội XIV của Đảng.
Diễn ra từ 25/8 đến 25/12/2025, trưng bày hứa hẹn trở thành điểm đến ý nghĩa, đặc biệt là thế hệ trẻ thêm hiểu, thêm yêu và trân trọng giá trị của độc lập – tự do mà cha ông đã dày công vun đắp.
Café ngày mới: Từ Ba Đình hôm ấy đến khát vọng hôm nay!
Mỗi độ thu về, khi tiết trời Hà Nội dịu dàng với những tia nắng nhẹ như rót mật trên mái ngói rêu phong, khi từng đợt gió heo may bắt đầu len vào từng hàng cây trên phố, trong lòng mỗi người dân Việt Nam lại hướng về ngày lịch sử trọng đại, Tết độc lập - 2/9, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Trong tập thơ “Theo chân Bác”, nhà thơ Tố Hữu viết:
“Hôm nay sáng mồng Hai tháng Chín
Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình”.
Những câu thơ giản dị mà đầy sức gợi ấy như khắc họa sống động khoảnh khắc lịch sử của 80 năm trước. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, đứng trên bục lễ giữa quảng trường rộng lớn, giọng nói trầm ấm vang vọng giữa trời thu: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật là nước Việt Nam đã trở thành một nước tự do, độc lập”.
Có thể nói, cả đất nước như nín thở trong khoảnh khắc ấy. Lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trên bầu trời Ba Đình không chỉ là biểu tượng của một quốc gia mới ra đời, mà còn là khúc bi tráng được kết dệt từ máu, nước mắt và khát vọng cháy bỏng của hàng triệu người dân Việt Nam.
Từ Ba Đình hôm ấy, dân tộc Việt Nam bắt đầu bước vào hành trình trường kỳ giữ gìn và bảo vệ độc lập, tự do. Dù hòa bình lập lại, nhưng máu xương vẫn còn đổ trên từng chiến hào, từng cánh rừng, từng con phố. Người dân Việt Nam lại tiếp tục cầm súng chiến đấu chống lại các thế lực thực dân, đế quốc xâm lược.
Từ những chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử “đi trong toàn thắng”, tên tuổi Việt Nam vang danh khắp thế giới như biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí bất khuất và khát vọng hòa bình độc lập tự do.
Tuy nhiên, chiến thắng không phải là điểm kết thúc. Sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đất nước ta bước vào giai đoạn xây dựng và hồi sinh với muôn vàn khó khăn. Đất nước bị tàn phá nặng nề, kinh tế kiệt quệ, cuộc sống của nhân dân còn thiếu thốn đủ bề.
Nhưng như cây tre Việt Nam, dù bị đốn ngã nhiều lần vẫn bền bỉ mọc lên từ những mầm măng tràn trề nhựa sống, dân tộc ta cũng kiên cường đứng dậy, không khuất phục trước bất cứ khó khăn nào. Đường lối đổi mới năm 1986 mở ra trang sử mới cho đất nước, như luồng gió mới thổi vào nền kinh tế, mở ra cánh cửa hội nhập với thế giới hiện đại.
Trong 80 năm kể từ ngày độc lập, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc. Từ một quốc gia nghèo khó, đi lên từ tro tàn chiến tranh, hôm nay Việt Nam đã trở thành một quốc gia ổn định, phát triển với vị thế ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Những thành tựu về kinh tế, văn hóa, giáo dục và công nghệ là minh chứng rõ nét cho tinh thần đoàn kết, sáng tạo và nỗ lực không ngừng nghỉ của cả dân tộc.
Thế hệ trẻ hôm nay không còn phải trực tiếp cầm súng ra trận, nhưng họ vẫn đang chiến đấu trên những “mặt trận” khác, họ mang trong mình tinh thần của cha anh, tinh thần yêu nước, khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phát triển bền vững. Những thế hệ này đang ngày đêm học tập, lao động và sáng tạo, từng bước nối dài hành trình vinh quang của dân tộc.
Từ Ba Đình hôm ấy đến khát vọng hôm nay chính là hành trình của niềm tin, của ý chí sắt đá và tình yêu mãnh liệt dành cho Tổ quốc. Dù cho thế giới có biến động ra sao, dù thử thách có lớn lao thế nào, dù thành tựu đạt được còn khiêm tốn, chúng ta vẫn luôn có một điểm tựa vững chắc, tựa vào quá khứ hào hùng để có đòn bẩy vươn tới tương lai tươi sáng. Dải đất hình chữ S sẽ lớn mạnh, gấm hoa non sông sẽ được dệt nên bởi những con người dám mơ ước, dám sống tử tế, hết mình vì cộng động và lòng yêu nước nồng nàn.
Mỗi khi mùa Thu về, khi tiếng Quốc ca vang lên trong không gian dịu dàng, ta không chỉ nhớ về một ngày tháng Chín năm xưa, mà còn khắc sâu vào lòng mình rằng, tự do hôm nay là kết quả của máu xương hôm qua. Và tương lai hùng cường, thịnh vượng chính là khát vọng, là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam hôm nay.
Muốn thế, mỗi chúng ta dù ở bất cứ đâu, làm công việc gì, luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đất nước, giữ gìn sự độc lập và tự do quý giá. Bởi chính từ những điều nhỏ bé, từng ngày, từng giờ, khát vọng lớn lao của dân tộc sẽ được hun đúc và thực hiện. Và như thế, từ Ba Đình hôm ấy đến khát vọng hôm nay sẽ là hành trình bất tận, dẫn lối cho Việt Nam mãi mãi vững bước trên con đường phát triển, hội nhập và phát triển.
Trưng bày gốm Bát Tràng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9
Sự kiện do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám phối hợp cùng nghệ nhân, nhà sưu tập Nguyễn Đức Công tổ chức, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Nghệ nhân Nguyễn Đức Công.
Trưng bày giới thiệu trên 180 hiện vật gốm sứ Bát Tràng, từ những tác phẩm phục chế phong cách gốm Lý, Trần, Lê, Nguyễn cho đến các sáng tác đương đại… thu hút đông đảo khách tham quan.
Mỗi hiện vật là một câu chuyện kết nối đất - lửa - bàn tay nghệ nhân với dòng chảy lịch sử ngàn năm.
Cũng tại trưng bày, chương trình còn tổ chức các hoạt động trải nghiệm như vuốt nặn, tạo hình, vẽ hoa văn, tráng men. Đây là cơ hội để du khách trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo, thấu hiểu sự kiên nhẫn và tài hoa của người thợ gốm, từ đó thêm yêu và trân trọng giá trị nghề thủ công truyền thống.
Ông Lê Xuân Kiêu - Giám đốc Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết: “Thông qua trưng bày và trải nghiệm, công chúng sẽ cảm nhận được tinh hoa nghề gốm Bát Tràng, đồng thời thêm tự hào, trách nhiệm trong việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa”.
Các nghệ nhân trực tiếp vẽ gốm tại buổi trưng bày.
Không khí sự kiện càng thêm ý nghĩa khi có sự góp mặt của đoàn làng Giang Cao, xã Bát Tràng đến dâng hương tưởng niệm thầy giáo Chu Văn An - Tư nghiệp Quốc Tử Giám, đồng thời tham quan trưng bày để tri ân, báo công những thành tích học tập của thế hệ trẻ, và gửi gắm khát vọng con cháu mai sau học giỏi, vươn mình sánh vai cùng bạn bè năm châu.
DANAFF 2025: Nâng tầm điện ảnh Việt Nam trên bản đồ quốc tế
Theo UBND thành phố Đà Nẵng, DANAFF III đã diễn ra thành công, đánh dấu bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng chuyên môn lẫn tính chuyên nghiệp. Sự kiện để lại nhiều trải nghiệm, dần khẳng định vị thế với cộng đồng điện ảnh trong nước và quốc tế.
Tại lễ khai mạc, bế mạc và trao giải, nhiều lãnh đạo cấp cao và bạn bè quốc tế đã tham dự, đặc biệt có sự hiện diện của bà Audrey Azoulay – Tổng Giám đốc UNESCO. Đây được xem là sự ghi nhận quan trọng của UNESCO đối với Liên hoan phim, trong bối cảnh kỷ niệm 20 năm Công ước 2005 về bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng biểu đạt văn hóa.
Năm nay, Liên hoan quy tụ 106 tác phẩm điện ảnh đặc sắc từ nhiều quốc gia, chia thành các hạng mục: Phim châu Á dự thi, Phim Việt Nam dự thi, Điện ảnh Việt Nam hôm nay, Nửa thế kỷ phim Việt Nam về chiến tranh, Toàn cảnh điện ảnh châu Á và Tiêu điểm điện ảnh Hàn Quốc.
Ước tính có hơn 27.000 vé được phát miễn phí đến công chúng. Trong suốt Liên hoan, 64 buổi giao lưu giữa gần 100 đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất, biên kịch và khán giả đã diễn ra sôi nổi, mang đến những cuộc đối thoại giàu ý nghĩa.
Không chỉ dừng lại ở hoạt động trình chiếu, DANAFF III còn tổ chức 3 hội thảo quốc tế, đóng vai trò như diễn đàn trao đổi đa chiều về xu hướng, chiến lược và chính sách phát triển điện ảnh. Các nhà làm phim trong nước và quốc tế đã cùng chia sẻ kinh nghiệm, mở rộng góc nhìn, nâng cao năng lực sản xuất và tư duy nghệ thuật.
Đặc biệt, workshop “Ươm mầm tài năng” tiếp tục phát huy hiệu quả khi tuyển chọn 52 học viên tại Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng, góp phần bồi dưỡng lớp nghệ sĩ trẻ. Dự án đã lựa chọn 14 dự án điện ảnh, hỗ trợ các nhà làm phim trẻ hiện thực hóa ý tưởng.
Trong khuôn khổ Liên hoan, công chúng còn được tham gia nhiều hoạt động bổ trợ như triển lãm, tham quan bối cảnh quay phim, quảng bá du lịch Đà Nẵng.
Trên cơ sở những kết quả tích cực, UBND thành phố Đà Nẵng kiến nghị Bộ VH,TT&DL tiếp tục hỗ trợ công tác quảng bá, tạo điều kiện duy trì tổ chức DANAFF định kỳ hằng năm, hướng tới việc xây dựng thương hiệu sự kiện điện ảnh quốc tế của Đà Nẵng. Đồng thời, đề xuất nghiên cứu, ban hành chính sách ưu đãi về thuế, phí cho các đoàn làm phim, tạo môi trường thuận lợi thu hút các dự án điện ảnh trong và ngoài nước.
Với những dấu ấn nổi bật, DANAFF III không chỉ là ngày hội của nghệ thuật thứ bảy mà còn là cầu nối giao lưu văn hóa, góp phần đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Cầu truyền hình 'Thời cơ vàng' - Lan tỏa khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường
(Chinhphu.vn) - Nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025), tối 22/8, Đài Truyền hình Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, với sự phối hợp của Thành ủy và UBND TP. Hà Nội, TP. Huế và TPHCM, thực hiện chương trình cầu truyền hình chính luận - nghệ thuật đặc biệt mang tên “Thời cơ vàng”.
Chủ động bảo vệ du khách và các di tích trước bão Kajiki
Ngày 25/8, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL có Công điện gửi Sở VH,TT&DL các tỉnh, thành phố từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên đến Gia Lai, yêu cầu triển khai các biện pháp ứng phó khẩn cấp với cơn bão số 5 (Kajiki), bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản, khách du lịch và di sản văn hóa.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, các địa phương phải huy động cao nhất tinh thần trách nhiệm, theo dõi sát diễn biến bão, xây dựng phương án ứng phó cụ thể và hiệu quả. Công tác kiểm tra, rà soát toàn bộ cơ sở lưu trú, khu điểm du lịch, đặc biệt tại khu vực ven biển, hải đảo, vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét cần được triển khai ngay.
Các Sở được yêu cầu phối hợp với lực lượng chức năng và chính quyền địa phương tuyên truyền, tổ chức sơ tán khách du lịch đến nơi an toàn; kiểm đếm, thông tin, kêu gọi các phương tiện hoạt động du lịch trên biển không đi vào hoặc khẩn trương thoát khỏi vùng nguy hiểm, neo đậu an toàn; hướng dẫn tàu thuyền tránh trú, đồng thời hỗ trợ ngư dân thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn tuyệt đối.
Rà soát, điều chỉnh hoặc tạm dừng các hoạt động lễ hội, vui chơi, giải trí, du lịch trong thời điểm bão đổ bộ để tránh tập trung đông người. Các địa phương cần xây dựng kịch bản sơ tán, thông báo rộng rãi cho người dân và du khách.
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ các công trình văn hóa, thể thao, di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh phải được ưu tiên, nhằm hạn chế thiệt hại do mưa bão gây ra, đặc biệt trong bối cảnh cả nước đang chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Các cơ quan như Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Cục Văn hóa cơ sở, Cục Gia đình và Thư viện được giao trách nhiệm phối hợp, chỉ đạo doanh nghiệp và đơn vị liên quan xây dựng phương án an toàn cho du khách trước, trong và sau bão.
Công điện khẳng định tinh thần chủ động, quyết liệt, khẩn trương trong toàn ngành văn hóa, thể thao và du lịch để giảm thiểu tối đa thiệt hại do bão số 5 gây ra. Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng giao Thứ trưởng Phan Tâm trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc việc triển khai công điện tại các địa phương, đơn vị.
Giáo dục truyền thống yêu nước qua triển lãm ‘Mốc son lịch sử’ ở Cần Thơ
.t1 { text-align: justify; }
Phát biểu khai mạc triển lãm, Đại tá Dương Công Sang, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9 nhấn mạnh, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã trở thành thiên anh hùng ca bất hủ.
Đây chính là sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức phấn đấu, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Triển lãm giới thiệu hơn 300 hình ảnh, tài liệu, hiện vật và hơn 200 đầu sách thể hiện hào khí của mùa Thu lịch sử năm 1945, cùng với đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ biên giới Tây Nam. Nội dung triển lãm có 3 phần chính gồm: Mùa Thu lịch sử, Sức mạnh niềm tin và Tiếp bước vinh quang.
Khai mạc triển lãm chuyên đề “Cách mạng Tháng Tám - Mốc son lịch sử”.
Trong không gian trưng bày của triển lãm, nhiều em học sinh, sinh viên đã lặng lẽ ngắm nhìn những bức ảnh tư liệu, những hiện vật gắn liền với giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc.
Nhiều học sinh, sinh viên chia sẻ, các em từng học về Cách mạng Tháng Tám qua sách vở, đến khi tận mắt thấy những hình ảnh này, các em phần nào cảm nhận được không khí thiêng liêng và hào hùng. Triển lãm đã giúp các em hiểu rõ hơn về giá trị của độc lập, tự do mà thế hệ đi trước đã đánh đổi bằng cả máu và nước mắt.
Triển lãm là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị thiêng liêng của độc lập, chủ quyền.
Theo Đại tá Dương Công Sang, triển lãm là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị thiêng liêng của độc lập, chủ quyền. Qua đó, góp phần giáo dục, cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Đồng thời, nêu cao ý chí tự lực tự cường, ý chí quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; biến những thành tựu vẻ vang trong quá khứ thành động lực để hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong kỷ nguyên mới.
Triển lãm chuyên đề “Cách mạng Tháng Tám - Mốc son lịch sử” mở cửa phục vụ khách tham quan từ nay đến hết tháng 9, tại Bảo tàng Quân khu 9 (số 6, đường Hòa Bình, phường Ninh Kiều, TP Cần Thơ).